KHÁNG NẤM

ĐIỀU TRỊ NẤM MÓNG BẰNG  ITRACONAZOLE
  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Itraconazole là một triazole kháng nấm, thuốc rất ưa mỡ và chất sừng, tồn tại lâu trong mô như da, Itraconazole có nồng đô cao trong mô do có ái tính với Protêin, đặc biệt là chất sừng, có hoạt phổ rộng kháng nhiễm nấm da, Candida và Malassezia. 

Itraconazole thấm vào bản móng qua 2 con đường: giường móng và bản móng bằng cách tăng nồng độ ức chế tối thiểu đến 100 ng/g (nồng độ ức chế tối thiểu MIC90: Minimum inhibitory concentration, đối với hầu hết nấm da, nấm men trong bệnh nấm móng chân) trong thời gian ít nhất là 11 tháng sau khi điều trị 3 đợt đối với nấm móng. 

Sau khi uống Itraconazole đi vào tổ chức da, tóc, móng, thuốc không quay trở lại hệ tuần hoàn. Do vậy sự tái tạo lớp sừng, tóc, móng được phục hồi từng bước ứng với sự giảm dần của Itraconazole trong các tổ chức này. 

Trị liệu uống Itraconazole từng đợt đã trở thành phổ biến đối với điều trị nấm móng vì nồng độ của thuốc trong huyết tương thấp, trong khi nồng độ thuốc có hiệu quả được duy trì ở bản móng, đồng thời cũng làm tăng sự hài lòng của bệnh nhân. Hiện nay phác đồ điều trị nấm móng chân được sử dụng từng đợt, mỗi đợt dùng Itraconazole 200 mg x 2 lần/ ngày trong 1 tuần, sau đó là 3 tuần không dùng thuốc. Nhắc lại 3 đến 4 đợt. Phác đồ này là an toàn và hiệu quả. Số liệu của nhiều nghiên cứu đã công bố cho thấy tỷ lệ khỏi trung bình về xét nghiệm nấm là 71,1% và tỷ lệ đáp ứng lâm sàng trung bình là 74,7%. 

Nghiên cứu này nhằm đánh giá 2 phác đồ sử dụng Itraconazole khác nhau trong điều trị nấm móng chân, khảo sát ngay sau điều trị và sau 2 năm, cả hai tỷ lệ: tỷ lệ chữa khỏi và tỷ lệ tái phát. 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 

Hai nhóm, mỗi nhóm 52 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu. Tất cả bệnh nhân đều trên 18 tuổi, không có thai và không cho con bú, không dị ứng với Itraconazole và không dùng bất kỳ thuốc nào khác có tương tác với Itraconazole. Tất cả bệnh nhân có hình ảnh lâm sàng và xét nghiệm nấm chẩn đoán là nấm móng chân chỉ do nấm gây bệnh ở da, không có tổn thương liềm móng và trong tiền sử không có chấn thương móng. Tất cả bệnh nhân  đều có tổn thương móng đầu tiên là móng chân. Trước khi vào nghiên cứu phải dừng sử dụng các thuốc kháng nấm toàn thân đã dùng trước đó ít nhất là 6 tháng và dừng sử dụng các chế phẩm kháng nấm tại chỗ ít nhất 1 tháng. 

Phác đồ điều trị 

A “Chuẩn” Trị liệu uống Itraconazole từng đợt trong 3 tháng (200 mg x 2 lần/ ngày trong 1 tuần/ 1 tháng) sau 3 tháng thêm một liệu trình điều trị đơn (200 mg/ ngày trong 7 ngày). 

B “Thay thế” (6 tuần xen kẽ) Trị liệu uống Itraconazole từng đợt trong 3 đợt (mỗi đợt gồm Itraconazole 200 mg x 2 lần/ ngày trong 1 tuần, sau đó có 5 tuần không điều trị) sau 3 tháng thêm một liệu trình đơn (200 mg x 2 lần/ngày trong 7 ngày). 

Tất cả bệnh nhân đều được đánh giá lâm sàng và xét nghiệm nấm với cùng một kỹ thuật trước mỗi đợt sử dụng Itraconazole, 1 tháng sau đợt điều trị cuối cùng, 12 tháng và 24 tháng sau đợt điều trị đầu tiên. 

Xác định hiệu quả lâm sàng của mỗi phác đồ điều trị bằng cách đo độ dài (tính bằng mm) vùng móng chân được điều trị, đo trước khi vào nghiên cứu, sau mỗi lần khám lại, đo lường và so sánh với một đường ranh giới. 

Chỉ số lâm sàng được đánh giá bằng vùng móng được điều trị khỏi hoàn toàn (móng chân sạch) phân loại như sau: Giảm rõ ràng (Trên 75% so với đường ranh giới); giảm trung bình (50 đến 74%); giảm nhẹ (25 đến 5%) và không giảm (0 đến 25%). 

Xác định điều trị khỏi theo xét nghiệm nấm bằng cả 2 phương pháp: Soi tươi tìm nấm với dung dịch KOH và nuôi cấy nấm. Khỏi hoàn toàn được nhận biết bằng cả 2: Khỏi lâm sàng (khỏi hoàn toàn) và khỏi về xét nghiệm nấm (Soi tươi tìm nấm với dung dịch KOH và nuôi cấy đều âm tính). 

KẾT QUẢ 

Phác đồ A

Có 52 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, 7 bệnh nhân không tuân thủ điều trị và 2 bệnh nhân không tiếp tục điều trị do đau bụng. 43 bệnh nhân hoàn thành điều trị, 3 bệnh nhân có tăng nhẹ LFT, những bệnh nhân này được theo dõi thường xuyên hơn cho đến khi LFT trở lại giới hạn bình thường. 

Tại thời điểm cuối của phác đồ điều trị (28 tuần sau khi bắt đầu điều trị): 24/43 bệnh nhân (55,8%) khỏi hoàn toàn; 4 bệnh nhân (9,3%) giảm rõ ràng; 10 bệnh nhân (23,3%) giảm nhẹ đến trung bình và 5 bệnh nhân (11,6%) không giảm. Tại thời điểm 12 tháng sau khi bắt đầu điều trị: 68,3% bệnh nhân khỏi hoàn toàn; 9,8% giảm rõ ràng; 12,2% giảm nhẹ đến trung bình và 9,8% không khỏi. Tại thời điểm cuối sau 24 tháng: có 37 bệnh nhân tái khám: 22/37 bệnh nhân (59,5%) khỏi hoàn toàn; 2 bệnh nhân (5,5%) giảm rõ ràng; 6 bệnh nhân (16,2%) giảm nhẹ đến trung bình và 7 bệnh nhân (18,9%) không khỏi. 

Phác đồ B

Có 52 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, 7 bệnh nhân không tuân thủ điều trị, 2 bệnh nhân không tiếp tục điều trị do đau bụng, và 1 bệnh nhân không tiếp tục điều trị do phát ban dị ứng, 2 bệnh nhân có tăng nhẹ LFT sau đợt điều trị thứ hai và họ không tiếp tục tham gia nghiên cứu. Do vậy có 40 bệnh nhân hoàn thành phác đồ điều trị và đưa vào phân tích. 

Tại thời điểm cuối của phác đồ điều trị (7 tháng sau khi bắt đầu điều trị): 26/40 bệnh nhân (65,0%) khỏi hoàn toàn; 3 bệnh nhân (7,5%) giảm rõ ràng; 8 bệnh nhân (20,0%) giảm nhẹ đến trung bình và 3 bệnh nhân (7,5%) không giảm. Tại thời điểm 12 tháng sau khi bắt đầu điều trị: 74,4% bệnh nhân khỏi hoàn toàn; 7,7% giảm rõ ràng; 7,7% giảm nhẹ đến trung bình và 10,3% không khỏi. Tại thời điểm cuối sau 24 tháng: Có 38 bệnh nhân tái khám: 29/38 bệnh nhân (76,3%) khỏi hoàn toàn; 3 bệnh nhân (7,9%) giảm rõ ràng; 2 bệnh nhân (5,23%) giảm nhẹ đến trung bình và 4 bệnh nhân (10,5%) không giảm.  

Không có bệnh nhân nào (trong cả 2 nhóm) được điều trị tại thời điểm cuối điều trị mà tái phát nấm móng sau 12 và 24 tháng. 

Bảng 1: Kết quả điều trị khỏi. 

 

Phác đồ A

Phác đồ B

Tại thời điểm cuối của phác đồ điều trị

 

 

Khỏi hoàn toàn

55,8%

65,0%

Giảm rõ ràng

9,3%

7,5%

Giảm nhẹ đến trung bình

23,3%

20,0%

Thất bại

11,6%

7,5%

Sau 12 tháng

 

 

Khỏi hoàn toàn

68,3%

74,4%

Giảm rõ ràng

9,8%

7,7%

Giảm nhẹ đến trung bình

12,2%

7,7%

Thất bại

9,8%

10,3%

Sau 24 tháng

 

 

Khỏi hoàn toàn

59,5%

76,3%

Giảm rõ ràng

5,4%

7,9%

Giảm nhẹ đến trung bình

16,2%

5,3%

Thất bại

18,9%

10,5%

Trị liệu uống Itraconazole từng đợt là một phác đồ thông dụng cho điều trị nấm móng chân. Phương pháp hiện nay là sử dụng uống Itraconazole 3 đợt, mỗi đợt có 1 tuần dùng thuốc và 3 tuần không dùng thuốc. Tuy vậy tỷ lệ khỏi cả về lâm sàng và xét nghiệm nấm trung bình 70-80% và tỷ lệ tái phát là 10,% sau 12 tháng. Trong nghiên cứu này chúng tôi khảo sát 2 phác đồ khác nhau với việc sử dụng số lượng Itraconazole như nhau như là một trị liệu chuẩn tại thời điểm bắt đầu điều trị, một liệu trình điều trị khác được thêm vào sau đó để làm tăng thời gian nông độ thuốc có hiệu quả trong bản móng. 

Nghiên cứu này cho thấy kết quả giống nhau trong 2 phác đồ với tỷ lệ khỏi trung bình 70-8%, thấp hơn chút ít so với số liệu đã dược báo cáo. Trên những bệnh nhân này điều trị khỏi hoàn toàn đã không đạt được ở những móng chân nhiễm nấm, giảm rõ ràng được ghi nhận ở những móng chân nhiễm nấm khác, như vậy hàm ý rằng 2 phác đồ đều có hiệu quả. 

Tuy nhiên kết quả tại thời điểm cuối 24 tháng là đáng khích lệ với 64,9% (phác đồ A) và 84,2% (phác đồ B) bệnh nhân khỏi hoàn toàn hoặc giảm rõ ràng ở các móng chân. 




Facebook
Email: dalieudongdieu@gmail.com
dalieuvietnam@gmail.com

Sơ Đồ Đường Đi

Tìm Kiếm

TỪ ĐIỂN

TÌM HIỂU DA CỦA BẠN

Liên Kết Website



BỘ Y TẾ
BỘ Y TẾ - CỤC Y TẾ DỰ PHÒNG
BV Da liễu trung ương Quy Hòa
BV Da liễu TP.HCM
BV Da liễu Trung Ương
Viện sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng TP.HCM
Viện sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng Quy Nhơn
Viện sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng Trung Ương

Quảng Cáo

Liên Hệ: 0913.407.557
Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo

FACEBOOK

Số Lượng Truy Cập